Hoa tai hình khuy áo có hai đầu
Đáng lẽ cài khuy bên phải thì nó lại không cài. Đối với nữ giới bình dân. Khiến họ có dáng đung đưa như nữ giới Trung Hoa. Người Việt có một nếp kỳ lạ để đi dép: họ dùng ngón cái và ngón thứ hai cặp lấy quai dép như ta dùng ngón tay cái và ngón trỏ để cầm một vật.
Quần áo cũng gần như nhau. Hậu thế đã quên lãng và mãi không bao giờ tìm lại được nữa. Một số nón được làm rất nghệ thuật bằng lá cọ lựa chọn kỹ càng.
Còn con gái và vợ các quan thì mang đồ trang sức bằng vàng bạc. Cái quai này thường được bọc vải. Về cái áo. Làm bằng những hạt tròn to bằng hạt đậu và xâu lại thành nhiều hàng”. Cái nón là bộ phận của y phục được các bà duyên dáng nhất chăm nom rất kỹ. […] “Người Bắc Kỳ có tóc đẹp và dài: không hiếm khi nhìn thấy những người đàn bà có tóc dài xõa xuống tận gót chân.
Trên đây chỉ là những nhầm lẫn của tác giả khi tiếp xúc lần đầu với đàn bà Việt Nam. Đế của nó bằng gỗ sơn then đen và phía trước cong vút lên. […] Phụ nữ đi dép đẹp hơn đàn ông. Những đôi “giày” thời ấy cũng được để ý kỹ lưỡng: “Khi người bình dân không đi chân đất thì họ mang một thứ dép làm bằng một cái đế da được giữ vào bàn chân bằng hai quai da.
Có ngón cái tách khỏi các ngón khác”
Gây nên nhiều phản ứng trong quần chúng. Một cái quần ống rộng thùng thình và một thắt lưng màu sặc sỡ hai dải buông xuống dưới đầu gối. Cả hai đều để tóc như nhau. Chúa Võ Vương ở Đàng Trong mới phỏng theo trang phuc của đàn bà Trung Hoa để lệnh cho nữ giới phía nam phải mặc quần. Dáng mặt cũng gần giống nhau. Phía sau mở. Vì đàn ông không để râu và cũng bới tóc như phụ nữ. Bông tai được làm bằng thủy tinh màu.
Mốt của họ đòi hỏi nó phải quấn chặt vào ngón và đeo vào tận trong ngón tay. […] “Nữ giới bản xứ người nhỏ nhắn. Dép ( nên hiểu là guốc ) chính là thứ để đi phổ thông của người Việt; bây chừ ở Bắc Kỳ chỉ có người bình dân mới dùng nó.
Mốt của họ muốn cho đôi dép hẹp và ngắn hơn bàn chân. Nhưng cân đối; thuộc hạ họ mảnh mai. Nhiều người còn dán một cái gương tròn nhỏ dưới đáy nón để soi khi đi ra phố và liếc nhìn để chữa lại vành khăn.
Không phải ai mới nhìn cũng hiểu được hết những tinh hoa văn hóa trong từng nếp váy. Đường kính rộng chừng sáu mươi hay bảy mươi phân. Chỗ cong lên thường được trang hoàng bằng chạm khắc. Để hở chiếc yếm mà người phụ nữ luôn để ý giữ gìn cho trắng”
Nhưng ở thị thành. Langlet đã nhận xét năm 1913 rằng: “Cái áo của họ không giống áo của nữ giới phía nam Trung Kỳ. Vua Minh Mạng lại ra lệnh cho nữ giới phía bắc cũng phải mặc theo như phụ nữ phía nam.
Phụ nữ đeo trằm và đeo nhẫn. Mãi đến thế kỷ 17. Họ coi ngó tóc rất cẩn thận và thường gội bằng một thứ nước có xà phòng ( tác giả không biết đây là quả bồ hòn ).
Khiến cho những bà điệu đàng chỉ đút vừa đầu ngón chân vào dép; họ đi kéo lê bàn chân. Một số phụ nữ xã hội trên đeo những dây chuyền lớn bằng vàng hay bằng bạc. Giá rất đắt. Nữ giới thuộc từng lớp sung túc thường đi một thứ dép bịt kín mũi đầu nhọn và rất cong giống như dép của người Mã Lai và Campuchia.
Họ thường ngồi chồm hỗm tóc xõa sau lưng để hong khô”. Với thầy thuốc Hocquard. Chân đi giày dép thường để trần; chỉ sang mùa đông người Bắc Kỳ mới đi hết thảy đan bằng sợi. Rút cục lệnh đó cũng không có hiệu lực. Nữ giới cũng quấn khăn như đàn ông. Tròn như những cái ống lông gà. Nhưng ở phía bắc thì mặc áo tứ thân để hai vạt trước không cài khiến cho cái yếm lộ ra trở nên một nét điểm trang được các cô gái rất để ý.
Nhẫn làm bằng dây vàng xoắn lại
Tuy nhiên đồ trang sức thì khác. Chiếc quần cũng dần dần được chấp thuận đối với nhiều người. Họ mặc chiếc áo dài. Một tác giả người Pháp khác là E. Thật khó mà đi những đôi dép luôn trượt khỏi chân đó và mỗi bước đi lại kêu vang lên; do vậy mà đàn bà có một lối đi lắc mông không kém phần duyên dáng.
Tà áo người Việt xưa. Khi họ chưa hiểu văn hóa người Việt thì dải dây lụa dùng để trang hoàng nón ba tầm chỉ là sự rườm rà. Người giàu và các quan đều đi giày Trung Quốc đế dày mũi nhọn. Nhất là khi được trang hoàng bằng hai cái móc bạc trỗ để buộc cái tua bằng lụa. Đó là tất những ghi chép về trang phục và vẻ ngoài của đàn bà Bắc Kỳ xưa qua con mắt của một vị thầy thuốc Pháp.
Có những chiếc nón bán không dưới mười đến mười lăm đồng (trương đương 45 đến 50 franc)”. Rồi đưa nhẹ bàn chân vào dép là quai đã móc vào chân rồi. Góc phía trước gắn vào đế giữa ngón chân cái và ngón thứ hai. Nó có dạng hình như một cái nắp hộp tròn. Bên trong có một lớp đan bằng sợi mây chẻ mỏng.
Còn về y phục phủ phần trên thân thì phụ nữ mặc áo dài hơn nam giới. Hai bên buộc một chùm sáu hay bảy dây nhỏ bằng lụa. #
Vì thế. Hai vạt áo chỉ buộc lại ở giữa hay bắt chéo và giữ lại bằng một cái thắt lưng. Tạo trên mu bàn tâm thành một hình chữ V. Điều mà giờ đây.
“Điều khiến tôi sửng sốt khi đến xứ sở kỳ lạ này. Phía giữa thõng vòng xuống trước ngực.
Chỗ quai buộc vào nón có hai tua bằng lụa đen hay lụa mộc rũ xuống như hai cái tai lớn.
Nét mặt dễ thương nếu không bị hàm răng nhuộm đen”. Là khó khăn trong thời kì đầu để phân biệt đàn ông và đàn bà từ cái nhìn trước hết.
Thậm chí cả giày châu Âu. Với người phương Tây. ( Cái mà tác giả gọi là dép ở đây thực ra là đôi guốc như tên gọi của người Việt ).
Y phục của đàn bà ở Hà Nội được biểu thị: “Cái nón của phụ nữ Bắc Kỳ rất khổng lồ. Không cần thiết… Nhưng với người Việt xưa không điều gì trên trang phục là không có ý nghĩa và có những lý sự riêng. Rồi khi sơn hà thống nhất đầu thế kỷ 19. Và sau đó để xõa tóc phơi dưới ánh dữ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét